Click here to edit subtitle

GIỚI THIỆU VỀ KHOA NGOẠI THẦN KINH - BỆNH VIỆN ĐÀ NẴNG

Khoa Ngoại Thần Kinh - Bệnh viện Đà Nẵng hiện tại có 13 Bác sĩ và 20 Điều dưỡng

Trưởng Khoa : Bs.CK2 Nguyễn Ngọc Bá

Phó Khoa :      Bs.CK1 Lê Nghiêm Bảo 

                         Bs.CK2 Lê Quang Chí Cường

  • Ths.Bs Lê Đình Huy Khanh  (hiện đang học Nghiên cứu sinh tại Hà Nội)
  • Ths.Bs Lê Hữu Trì
  • Ths.Bs Hồ Mẫn Vĩnh Phú
  • Bs.CK1 Trà Tấn Hoành (hiện đang học CK2 tại TP Hồ Chí Minh)
  • Bs.CK1 Nguyễn Hữu Lâm (hiện đang học CK2 tại TP Hồ Chí Minh) 
  • Bs.CK1 Kiều Viết Trung  (hiện đang học Nghiên cứu sinh tại Hà Nội)
  • Bs.CK1 Nguyễn Vương Tuấn 
  • Bs.CK1 An Trí Dũng
  • Bs Hoàng Ngọc Bảo  (hiện đang học CK1 tại TP Hồ Chí Minh)
  • Bs Lê Quang Huy 


Điều dưỡng Trưởng khoa : CNĐD Nguyễn Thị Kiều Chinh

  • CNĐD Nguyễn Thị Thanh Minh
  • CNĐD Lý Thị Bình
  • ĐDTH Nguyễn Trọng Ngân Hà
  • ĐDTH Phan Thị Thúy Hằng
  • ĐDTH Nguyễn Thị Thư
  • ĐDTH Bùi Thị Lựu
  • ĐDTH Đoàn Thị Ái Hoa
  • ĐDTH Nguyễn Thị Kim Cúc
  • ĐDTH Phan Thị Nhứt
  • CĐĐD Nguyễn Thị Hồng Hạnh
  • ĐDTH Nguyễn Thị Thanh
  • ĐDTH Nguyễn Thị Thảo
  • ĐDTH Ngô Thị Đà
  • CĐĐD Bùi Thị Thảo Ngọc
  • ĐDTH Nguyễn Thị Ánh Loan
  • ĐDTH Nguyễn Thị Cúc
  • ĐDTH Châu Thị Xuân Trang
  • CĐĐD Trương Phan Thanh Tuyền
  • ĐDTH Nguyễn Thị Phúc

Lịch sử hình thành và phát triển Khoa Ngoại thần kinh – Bệnh viện Đà Nẵng

1965 – 1975 :

Với tên gọi đầu tiên là Trung tâm y tế toàn khoa Đà Nẵng được thành lập 1965, những bệnh nhân điều trị ngoại khoa thời đó đều tập trung về bệnh viện này nên người dân thường gọi là trung tâm giải phẫu toàn khoa.Lúc đó chủ yếu là những bệnh lý ngoại khoa viêm ruột thừa ,thủng dạ dày ,apxe gan ,vết thương bụng ,mổ đẻ ,về ngoại thần kinh của thời chiến tranh như vết thương sọ não…Hầu hết đều do các bác sĩ nội trú của trường Y Huế tham gia giải quyết.


1975 – 1985 :

Bệnh viện Đà nẵng sau 1975 như một bệnh viện hạng II với phương tiện điều kiện thô sơ như : máy X-Quang, chụp mạch não đồ với kim sắt, chụp tủy sống đồ với thuốc cản quang tan trong dầu (lipiodone ultra fluid), tại phòng mổ chỉ có máy đốt đơn cực Bovie của quân đội Mỹ để lại,khoan tay và bộ dụng cụ sọ não thần kinh thô sơ. Thật sự đã trải qua nhiều giai đoạn rất khó khăn xuất phát từ chỗ thiếu nhân lực chuyên môn , trang thiết bị dụng cụ trong chẩn đoán và phẫu thuật .Bs Lê Ngọc Dũng là người đi tiên phong trong lĩnh vực Ngoại thần kinh tại khu vực miền Trung và bệnh viện Đà Nẵng.Giải quyết những bệnh lý như : máu tụ dưới màng cứng mạn tính sau chấn thương với dẫn lưu ổ máu tụ với kết quả ngoạn mục, thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng được mổ lấy khối thoát vị và giải phóng thần kinh đã đem lại kết quả khả quan.
Điều trị những bệnh lí chiến tranh như vết thương sọ não , vết thương tủy sống hay chấn thương.Thỉnh thoảng mới có u não hay u tủy sống,áp xe não ,u lao ngoài màng cứng trong ống sống... chuyển bệnh lên tuyến trên như Hà Nội hay TP Hồ chí Minh rất khó khăn vì phương tiện giao thông lúc bấy giờ còn thô sơ.
Các bệnh lý ngoại khoa thần kinh như não úng thủy ,u não ,thoát vị não màng não, vết thương sọ não,chấn thương sọ não.. đều được đưa về bệnh viện đa khoa Đà Nẵng ,trong khả năng có thể điều trị may mắn thì cứu được còn không thì người nhà xin đưa bệnh nhân về nhà chờ chết.

1985 – 1995 

Trong thời gian nầy tổ ngoại thần kinh chỉ có 8 giường bệnh trong khoa ngoại chung .

Ngoại thần kinh là một chuyên ngành khó,chẩn đoán điều trị phải đòi hỏi phương tiện, trang thiết bị phù hợp.Tỉ lệ tử vong cao và di chứng nặng nề.Ít bác sĩ muốn đi theo chuyên ngành này.Trước thực tế về nhân sự và nhu cầu bức thiết của người bệnh ngày càng nhiều,không chỉ là bệnh nhân ở Đà Nẵng mà còn bệnh nhân ở các tỉnh lân cận miền Trung – Tây Nguyên,xin về điều trị tại bệnh viện Đà Nẵng.Bác sĩ Nguyễn Ngọc Bá hăng hái tham gia và đăng kí đi đào tạo chuyên ngành Ngoại thần kinh tại bệnh viện Chợ Rẫy TP Hồ Chí Minh và bệnh viện Việt Đức Hà Nội.

Ngày càng nhiều những bệnh lý thoát vị đĩa đệm, u não, u tủy, lao cột sống, ápxe não và nhất là chấn thương sọ não kín.Nhiều trường hợp chấn thương sọ não nghi khối choáng chổ trong hộp sọ ,phương tiện duy nhất có được là thực hiện mạch não đồ để xem hình ảnh gián tiếp di lệch của mạch máu não để chẩn đoán và định khu tổn thương ,có nhiều trường hợp chấn thương sọ não tri giác xấu dần,giãn đồng tử một bên và liệt nửa người bên đối diện,nhiều khi không kịp thời gian để làm mạch não đồ mà nhanh chóng cạo tóc và chuyển bệnh nhân đi khoan sọ thăm dò phát hiện ra những trường hợp máu tụ ngoài màng cứng với khoảng tỉnh và đã cứu sống được bệnh nhân,nhưng cũng nhiều trường hợp với bệnh cảnh lâm sàng nghi ngờ máu tụ nội sọ ,chuyển mổ khoan sọ thăm dò nhiều mũi mà không phát hiện được những thương tổn máu tụ,chống phù não ở thời kỳ này thường chỉ bóp bóng,manitol,cho đến 1990 mới có được máy giúp thở bằng nguồn viện trợ và được đặt tại trung tâm hồi sức.

- Chấn thương cột sống thắt lưng kèm theo gãy cột sống có liệt  hay mổ giải áp cắt bỏ mảnh sau,và dụng cụ lúc đó chỉ có Harrington kết quả phẫu thuật không đủ thuyết phục, mổ bán cấp cứu với những ca chấn thương có liệt không hoàn toàn .

- 1992 ca mổ Roy Camille đầu tiên được thực hiện tại Đà nẵng. Từ đó về sau chỉ định phẫu thuật theo phương pháp này được chỉ định môt cách chuẩn mực và khoa học hơn.

-1993 ca mổ chấn thương cốt sống cổ đầu tiên đi lối trước với nẹp vít tự chế.

-trượt cột sống thắt lưng trong giai đoạn nầy hoàn toàn không có phương tiện nẹp vít ,ốc,chúng tôi sử dụng cắt đoạn xương mác ở cẳng chân chẻ làm đôi ghép cố định vào gai sau với buộc chỉ thép để hàn xương.
- U  não chỉ đươc chẩn đoán bằng động mạch đồ ,đặc biệt là thì tĩnh mạch và  mao mạch  để khu trú khối u  .Mãi đến năm 1996 chúng tôi mới được trang bị CT scan .Từ đó sự chẩn đoán được dễ dàng hơn .Đến năm 2000 trên 100 ca u não đã được mổ tại bệnh viện Đà Nẵng . 

- U não thường rất lớn, bệnh nhân đến muộn vì chẩn đoán trễ bệnh nhân có lúc đến viện trong tình trạng hôn mê, động kinh, phải hồi sức xong mới làm động mạch não đồ ,đôi khi chẩn đoán phân biệt với tai biến mạch máu não hoặc máu tụ  mãn tính trong hộp sọ.

- Apxe não từ  phổi, viêm xoang ,viêm tai xương chủm được mổ dẫn lưu kết hợp với kháng sinh theo kháng sinh đồ đã giảm thiểu tỉ lệ tử vong đáng kể .
Kháng sinh  dùng một thời gian dài có hiệu quả vẫn là Penicillin liều cao và chloramphenicol .Những ca để hở màng cứng thường bị nấm não hay, thoát vị não…
- Những u màng não lớn trong mổ thường chảy máu nhiều và phù não sau mổ , hồi sức rất khó ,di chứng nặng nề.
- Phương tiện đưa bệnh nhân lên tuyến trên rất khó khăn bằng xe lửa hay xe đò. Những trường hợp ngoài khả năng chẩn đoán và điều trị, bệnh nhân tự động xin về chờ chết .Trước yêu cầu càng ngày càng nhiều của thực tế đặt ra.
Nhiều trường hợp u não,apxe não ,thoát vị não màng não ,u tủy,tạo hình khuyết hổng hộp sọ ,nhất là vùng trán bằng xương sườn tự thân,vật liệu arcylic,composite carbon…

Phải kể thêm đội ngủ điều dưỡng nhiệt tình và ngày đêm tận tụy với công việc nhọc nhằn và gian khó này,tiêu biểu là cô điều dưỡng Nguyễn thị Kiều Chinh.


1995 – 2004

Đà Nẵng được trang bị máy chụp cắt lớp xử lý bằng máy điện toán vào năm 1996 đã thay đổi hẳn bức tranh trong chẩn đoán bệnh lý sọ não.Đây là cuộc cách mạng chẩn đoán hình ảnh học trong chấn thương sọ não.Nhờ hình ảnh CT định vị được thương tổn và vị trí của khối máu tụ nhanh chóng và đơn giản.Đây cũng là bằng chứng pháp lý rõ ràng trong chẩn đoán bệnh lý chấn thương sọ não và những bệnh lý khác của khối choáng chỗ trong hộp sọ,kể từ đó chúng tôi ít khi mổ tử thi vì có bằng chứng hình ảnh rõ ràng trên CT.Chất lượng điều trị được nâng lên một cách rõ ràng, chẩn đoán nhanh chóng ,kịp thời ,cứu được nhiều người bệnh ,còn thêm có máy giúp thở ,nên cứu sống được nhiều bệnh nặng,giảm hẳn tỉ lệ tử vong .ngoài ra chúng tôi còn làm Myelo- CT để chẩn đoán những bệnh lý thoát vị đĩa đệm, bệnh lý chèn ép tủy sống cho đến năm 2003 với hình thức xã hội hóa ,bệnh viện được trang bị máy MRI 0.3 Tesla nhiều bệnh lý tủy sống được phát hiện.

Vào đầu thập niên 90, và những năm sau đó ,các bác sĩ ở Ngoại thần kinh được cử đi học và làm nội trú ở Pháp như ở Perpignan , C.H.U Angers, C.H.U Lille ,Lyon, Amiens .4 bác sĩ Lê Ngọc Dũng,Nguyễn Ngọc Bá,Lê Nghiêm Bảo và Lê Quang Chí Cường đã được học tập những kỹ thuật mới về Ngoại thần kinh ở nước tiên tiến.

1995 phối hợp với tổ chức Acodess CH Pháp, Gs Bret ,Gs Deruty từ CHU Lyon thường qua hàng năm mỗ thị phạm, trao đổi kỹ thuật..

Đến năm 2000 đánh mốc thời gian chuyển tiếp sự chia tách ,hình thành khoa ngoại chấn thương –thần kinh với 4 bác sĩ ngoại thần kinh và 20 giường bệnh cho ngoại thần kinh.

Bác sĩ Park Bert đã dày công liên hệ với tổ chức phẫu thuật thần kinh thế giới,để tìm cách giúp đở bệnh viện Đà Nẵng có được một kính vi phẫu thuật thần kinh 2 mắt kính vào năm 2003,từ đó bệnh lý ngoại thần kinh bước sang một thế giới mới,chất lượng cuộc mổ đã thay đổi một cách ngoạn mục,xuyên qua kính vi phẫu hình thái cấu trúc đại thể của bệnh lý đã hiện rõ trước mắt ,phân biệt một cách chi tiết những cấu trúc giãi phẫu liên quan một cách thật quá tỉ mỉ ,phẫu thuật viên tự tin với những hình ảnh phóng đại nhiều lần.Và nói không ngoa rằng “không có kính vi phẫu thì không thể nói có ngoại thần kinh”. Vào năm 2002,giáo sư Bagan,chủ tịch hội phẫu thuật thần kinh thế giới đã đến Đà Nẵng thăm và làm việc với tổ Ngoại thần kinh ,từ đó đã gửi nhiều phẫu thuật viên thần kinh có kinh nghiệm ở các nước đến giúp đở và nhiều bác sĩ nội trú ngoại thần kinh ở các nước về thực tập tại khoa ngoại thần kinh – Bệnh viện Đà Nẵng.Mỗi lần qua,các bác sĩ đều mang nhiều dụng cụ vi phẫu để giúp cho ngoại thần kinh ngày càng có được những trang bị cần thiết đáp ứng được nhu cầu ,nhiều kỹ thuật mới được triển khai như mổ cột sống cổ đi lối trước,phẫu thuật cố định cột sống cổ lối sau với vis ốc tự chế bắt vào khối khớp,trượt cột sống thắt lưng,những u não phức tạp ,

Với công nghệ tiến tiến của Nhật ,tại đại học Wakayama được nghiên cứu ứng dụng nhiều năm tại bệnh viện Đà Nẵng ,vào ngày 01/04/ 2003 trường hợp đầu tiên vá xương sọ tự thân,bảo quản đông lạnh với nhiệt độ -35 độ C đã được thực hiện, rất phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.


2004 đến nay (2013)

Qua gần 4 năm cùng ngoại thần kinh và chấn thương chỉnh hình trong một khoa chung ,như một cái áo quá chật chội ,theo qui luật của tự nhiên ,sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, Khoa Ngoại thần kinh được tách ra khỏi khoa Ngoại chấn thương và trở thành một khoa riêng biệt  được Bộ y tế công nhận. Từ nhu cầu đích thực của  các tỉnh miền Trung ,với tốc độ phát triển và khả năng hội nhập nhanh chóng , khoa ngoại thần kinh BV Đà Nẵng đã từng bước trưởng thành và lớn mạnh . Với các bác sĩ trẻ đầy năng lực được đào tạo bài bản trong và ngoài nước,chúng tôi tin tưởng khoa sẽ đáp ứng được lòng mong đợi của nhiều bệnh nhân nghèo miền Trung không có khả năng lên tuyến trên.Khoa Ngoại thần kinh chính thức được thành lập vào ngày 01/01/2004. .

Nhiều bệnh lý mới  được học hỏi ,với phương tiện chẩn đoán chính xác hơn và thay đổi phương cách điều trị.phù hợp,với xu thế hội nhập khu vực và những tiếp cận nhanh chóng tiến bộ của nền y học thế giới.
Thời điểm này,thấy nhu cầu quá bức bách,hàng loạt bác sĩ trẻ đã được đầu quân để xây dựng khoa Ngoại thần kinh – BV Đà Nẵng mạnh về số lượng và vững vàng về chất lượng.Bác sĩ Trà Tấn Hoành gần như trực thường trú tại bệnh viện,hăng hái năng nổ như một tấm gương sáng ,tận tụy với công việc , bác sĩ Lê Đình Huy Khanh , bác sĩ Hồ Mẫn Vĩnh Phú,bác sĩ Lê Hữu Trì,bác sĩ Nguyễn Hữu Lâm và nhiều bác sĩ trẻ đầy nhiệt huyết cũng như rèn luyện kĩ năng tay nghề lần lượt về khoa.

Những bệnh lý như phình mạch não,dị dạng mạch máu não,u não vùng sàn sọ,vùng tuyến yên,hố sau…,đau dây V,giải áp vi mạch, phá sàn não thất ba,phẫu thuật nội soi lấy u não thất ,u tuyến yên đường qua xoang bướm…hàng loạt những bệnh lý cột sống như thoát vị đĩa đệm cổ,hẹp ống sống,thay đĩa đệm nhân tạo cổ,tạo hình bản sống cổ,lao cột sống đi lối trước,lối sau,vẹo cột sống,phong bế giảm đau thần kinh,sinh thiết qua chân cung những bệnh lý về cột sống,phẫu thuật cột sông xâm lấn tối thiểu , phẫu thuật nội soi thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng…Có 1 khoảng thời gian được sử dụng phẫu thuật thần kinh định vị Navigation,do đó chất lượng cuộc mổ phát triển 1 cách vượt bậc sánh cùng hai đầu đất nước.

Nhiều năm trở lại đây với trang bị C – Arm ,CT 64 dãy, MRI 1.5 Tesla , máy DSA thế hệ mới, thêm một kính vi phẫu mới và nhiều dụng cụ phẫu thuật thần kinh đã giải quyết được hầu hết những bệnh lý phức tạp của thần kinh sọ não và cột sống mà không phải chuyển bệnh nhân đi đâu.Ngược lại nhiều bệnh nhân tại các tỉnh miền trung từ Hà tỉnh ,Nghệ an cũng vào điều trị..

Nhu cầu và yêu cầu ngày càng bức bách,yêu cầu đào tạo ,huấn luyện cấp bách hơn,sự quan hệ quốc tế liên tục phát triển ,cập nhật những kĩ thuật tiên tiến ,trang thiết bị ,vật liệu ngày càng đa dạng ,phong phú , chất lượng ,đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người bệnh.,

Tập thể khoa ngoại thần kinh bệnh viện Đà Nẵng đã đứng ra đăng cai tổ chức 2 hội nghị Ngoại Thần Kinh toàn quốc 2007 và 2011 tại Đà Nẵng với nhiều đề tài được xét chọn báo cáo ,với sự tham gia của nhiều đồng nghiệp từ mọi miến đất nước ,cùng với nhiều khách mời quốc tế,để lại ấn tượng tốt đẹp cho bạn bè khắp nơi.

Tổ chức thường xuyên hằng tuần những hội thảo nhỏ trong khoa để cập nhật thông tin mới,tập trình bày báo cáo khoa học bằng tiếng Anh.

Bs Park Bert của hội Operation Blessing của Mỹ

Gs Patrick Kelly, Gs Dennis,

Tổ chức Học Mãi Foudation của Úc

Tổ chức Facing the World của Anh

Hằng năm Bs Robert Redferns ở bệnh viện Morrison,Swansea, Wales,U.K đến làm việc khám bệnh ,hội chẩn ,trao đổi chuyên môn,và tìm học bổng cho các bác sĩ khoa Ngoại thần kinh được thực tập ngắn hạn tại Anh.

Nhiều kĩ thuật được học hỏi từ viện đại học Wakayama ,Nhật.

Bs Araki của bệnh viện Araki, Nhật cấp học bổng 3 tháng hằng năm cho các bác sĩ trẻ

Brain Attack Ota Memories Hospital, Nhật.

Vào ngày 20 -23 tháng 9 ,2013 sẽ tổ chức hội thảo về can thiệp mạch não với sự hợp tác với bệnh viện Ota ,bệnh viện Đại học y dược TpHCM và bệnh viện Đà Nẵng với sự chuẩn bị nhiều bệnh nhân phình mạch não,dị dạng động tĩnh mạch não ,tắc mạch trước mổ những u màng não…

Trong chương trình thử nghiệm lâm sàng hợp tác đa quốc gia với trung tâmTRI (Translational Research Informatics Center) ở Kobe, Nhật hợp tác nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc trong điều trị chấn thương cột sống có liệt, sẽ mở ra nhiều hy vọng góp phần cải thiện chất lượng sống cho những bệnh nhân chấn thương cột sông có liệt tủy.

Chỉ đạo tuyến :Cử nhiều đợt bác sĩ về bệnh viện Đa Khoa miền núi phía Bắc Quảng Nam triển khai mổ thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng,trượt cột sống,hẹp ống sống ,chấn thương sọ não..

,Tham gia phẫu thuật tại bệnh viện Sản Nhi ,Bệnh viện Ung thư ,bệnh viện Kontum…

Khám tầm soát bệnh lý thần kinh tại các bệnh viện địa phương trong khu vực.

Có 2 bác sĩ được đào tạo vừa làm ngoại thần kinh,vừa đầu tư trong mảng can thiệp mạch thần kinh.Chúng tôi đã thực hiện những trường hợp như dò động cảnh- xoang hang,túi phình động mạch não.Chúng tôi đang đầu tư tăng cường can thiệp như phình mạch não,dị dạng mạch máu nào,tắc mạch máu nuôi trong u màng não trước mổ,đặt Stent hẹp mạch,lấy máu đông trong tắc mạch,phối hợp trong đội can thiệp đột quỵ não.

Xây dựng đơn vị hồi sức chuyên về thần kinh.